TRA CỨU SỬ DỤNG NƯỚC

Tin hoạt động

HueWACO nuôi giữ khát vọng và bản sắc văn hóa
Tin ngày Thứ Sáu, 11/09/2020

1.  Cái xóm nhỏ ven lộ của tôi ở làng Dã Lê Thượng có tên gọi là xóm Chùa. Đơn giản, trong xóm có  ngôi chùa làng mang tên Linh Sơn. Cũng từ ngôi chùa này mà có thêm ruộng Chùa, bây giờ đã bồi lắp để làm nhà cả rồi và cái giếng Chùa. Ngày trước cả xóm tôi cậy trông vào nguồn nước của cái giếng này. Tôi nghe bảo giếng có từ thời “Mọi”. Giếng khá sâu, khoảng chừng 7 - 8m và đáy là một khối đá khổng lồ. Nước giếng Chùa trong, mát và khá dồi dào. Thế nhưng, chỉ cung ứng đầy đủ vào mùa mưa, còn khi nắng hạn kéo dài, bắt đầu từ tháng 5 Âm lịch cho đến tận tháng 8, tháng 9 thì giếng Chùa cũng kiệt nước.
Chưa bao giờ bị tắt mạch nhưng muốn có nước uống từ giếng Chùa mùa nắng nóng phải chắt, phải chờ rất vất vả. Tuổi thơ của tôi gắn liền với những kỷ niệm “chắt nước” giếng Chùa. Ban ngày nhiều lúc có  8 - 9 người cùng lấy nước, vậy là phải chờ, có khi kéo dài cả buổi. Đến thời điểm múc nước, cả giếng ầm ĩ hẳn lên, thế nhưng cũng chỉ 10 - 15 phút là hết nước, lại phải ngâm và đợi tiếp. Muốn có nhiều nước nhiều lúc phải chờ đến tận nửa khuya, ít người múc nước, nhưng cũng phải chắt từng gàu một, vừa buồn ngủ, vừa bị muỗi đốt và lại vừa sợ ma. Ui chao là nhiêu khê.
Nước gánh về đục ngầu phải để cho lắng lại. Việc sử dụng nước cũng được quản lý hết sức chặt chẽ, chủ yếu là dùng để nấu nướng. Tắm rửa thì phải tính từng ca một. Còn giặt giũ thì phải gánh thêm nước hói đã bẩn lại ngứa. Cũng có những lúc khó khăn qua, chúng tôi phải lên tận làng Thanh Thủy Thượng, cách nhà mấy cây số, hay đi vào các khe suối ở phía tây của làng để chở nước, gánh nước. Bây giờ nhớ những năm tháng ấy mà sợ. Đúng là “hạt nước, hạt vàng”, như tựa đề một cuốn sách của nhà văn Liên Xô mà tôi đã đọc nhưng không nhớ tên tác giả.
Chúng ta đang nói nhiều đến nước sạch, nước uống an toàn với bao điều kiện, tiêu chuẩn này nọ. Ít người biết rằng, cách đây mấy chục năm về trước, chỉ việc có nước để dùng trong sinh hoạt hằng ngày cũng đã là bài toán khó. Vùng xóm Chùa - Dã Lê Thượng chưa phải là nơi khó khăn nhất. Tôi đã có dịp về nhiều nơi trong tỉnh và cảnh tượng bà con mình phải dùng nước ao hồ bẩn thỉu để vừa uống, vừa tắm giặt cứ đọng mãi trong tôi với bao điều ray rức. Tôi nhớ câu chuyện vui. Một anh bạn quê ở Thủy Tân (Hương Thủy) quen cô giáo ở Huế. Họ đã rủ rỉ rù rì rồi không vẫn đến được với nhau, bởi cô giáo sợ về làm dâu ở làng, không có nước dùng và không biết gánh nước. Còn tôi đã dụ được một cô gái Huế, nhưng cũng vất vả vô cùng bởi cái khoản nước non kia.
Nước là khát vọng của bao đời nên cái ngày mà xóm Chùa yêu dấu của tôi có nguồn nước máy đã là ngày vui khôn tả. Và rồi, cùng với điện thắp sáng, những cụm từ như “nước sạch về làng”, “nước sạch vượt phá”, “nước sạch lên núi”… được nhắc tới ở bao tên đất, tên làng ở Thừa Thiên Huế như một sự đổi đời, minh chứng hùng hồn cho cái chân lý “bàn tay ta làm ra tất cả”… Để rồi từ đó, cái giếng Chùa của tôi “hết thời”. Nó chỉ còn giữ lại như kỷ niệm của một thời. Mỗi lần về thăm nhà tôi thường dẫn thằng con trai- nay đã là một sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh- ra thăm giếng và kể cho con nghe những câu chuyện vui, chuyện lạ gắn với cái giếng nước này.
2. Hai mươi năm trước, ngay sau khi Huế vừa hứng chịu cơn đại hồng thủy 1999, theo lời mời của Giám đốc Trương Công Nam (nay là Chủ tịch HĐQT), có dịp ghé thăm Nhà máy nước Vạn Niên, tôi đã ngỡ ngàng trước vẻ đẹp khác lạ của công trình. Nhà máy nước Vạn Niên khởi công xây dựng năm 1909 và hoàn thành vào năm 1911, chậm hơn rất nhiều so với Nhà thương Huế hay Trường Quốc Học, những công trình tiêu biểu dưới thời thuộc Pháp. Lý giải về sự chậm trễ này, nhiều người đã nói đến sự khó tính của người Pháp. Thế nhưng, cũng nhờ thế mà hồi đó, Huế đã có một nhà máy nước đầu tiên độc đáo, mang dáng vóc của một ngôi chùa nhỏ phương Đông với 5 trụ biểu cổ lâu, mái ngói âm dương và các đầu hồi uốn cong, môtíp của các đình làng.
Theo Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, với một tấm lòng yêu Huế thiết tha, với một sự trân trọng văn hóa Huế tuyệt vời, kiến trúc sư Bossard mới thiết kế được kiến trúc nhà máy nước Huế đẹp như thế. Có thể nhiều người vẫn còn hoài nghi khi biết rằng, Kiến trúc sư tài ba Bossard đã thiết kế Nhà máy nước Vạn Niên giống như một cái chùa kia là vì Tòa Khâm sứ Trung kỳ Pháp không muốn một nhà máy nước của Phương Tây làm mất vẻ đẹp cổ kính của lăng Tự Đức cách đó không quá 1 cây số(!). Còn bàn về sự kiện này, trong bài viết “Chuyện nhà máy nước Vạn Niên”, đăng trên tập san “Ái hữu công chánh” vào năm 2003, ông Tôn Thất An Cựu viết, người Huế bắt đầu dùng nước máy do Nhà nước máy Vạn Niên sản xuất cùng lúc biết thưởng thức rượu Tây do hãng Chaffanjon ở khu phố Tây cung cấp. Nước máy được so sánh với rượu Tây, gợi nên bao sự tò mò và thích thú.
Hơn 110 năm qua, từ nguồn cội Vạn Niên, Thừa Thiên Huế đã có thêm nhiều nhà máy nước tỏa phủ khắp nơi: Bạch Mã, Tứ Hạ, Hòa Bình Chương, Quảng Tế, Lộc An, Lộc Trì, Phong Thu, Điền Môn, Bình Thành, Chân Mây, Bình Điền, Xuân Lộc, Tà Rê, Đông Sơn, Phú Vinh, Sơn Thủy (A Lưới), Khe Tre, Hương Sơn (Nam Đông)… để tạo thành một HueWACO. Tôi đã có dịp đi về các nhà máy Quảng Tế, Lộc An và nhiều nơi khác. Điều cảm nhận chung là cũng như nhà máy Vạn Niên thuở ban đầu nơi vùng thượng lưu sông Hương, toàn bộ công trình kiến trúc của các nhà máy đều hài hoà cùng với cảnh quan hết sức thơ mộng của thiên nhiên. Ví như nhà máy ở Lộc An là một công trình nằm ở nơi triền đồi vùng thượng lưu sông Truồi thơ mộng, có vườn rau sạch theo kèm. Người ta bảo nước máy Huế sạch, an toàn và thơm ngon là nhờ lấy nước từ dòng Hương Giang thì đây, với nhà máy Lộc An chẳng hạn, nước sông Truồi. Ngoài ra, còn các con sông khác ở Huế như Sông Bồ, sông Ô Lâu, song Bù Lu…cũng góp phần tạo nên giá trị và nó được nối ghép bởi những con người có tư duy và luôn có sự đổi mới, sáng tạo.
3.  Tôi “bị” ấn tượng khi biết HueWACO xác định, tài sản của công ty gồm 3 phần quan trọng: Vốn tài chính, vốn chất xám và vốn văn hóa. Rồi họ lý giải, văn hóa HueWACO như mạch nước nguồn thấm sâu, có sức lan tỏa vào từng ngóc ngách tâm hồn để tạo nên sức mạnh tập thể lớn lao. Từ làm cho đến chơi, từ công việc cho đến giải trí luôn thể hiện sự năng động và sáng tạo theo nguyên tắc “làm hết mình, chơi nhiệt tình”. Không thờ ơ vô cảm, mà luôn biết ơn và tri ân người có công, biết giúp đỡ với tấm lòng chia sẻ, thân thiện những hoàn cảnh khó khăn. Các giá trị truyền thống được lưu truyền, gìn giữ và phát triển, các hệ thống chuẩn mực đạo đức, giao tiếp ứng xử được đúc kết và xây dựng.
Năm 2012, HueWACO cho in cuốn “Sổ tay văn hóa” và đã phổ biến cho toàn thể cán bộ, công nhân viên chức. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp không xa lạ gì với các doanh nghiệp, tuy nhiên thật hiếm có đơn vị  xây dựng văn hóa doanh nghiệp một cách bài bản, kiên trì và đầy nhiệt huyết như HueWACO. Nhà văn Hồ Đăng Thanh Ngọc, Chủ tịch Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế đã phải thốt lên: “Điều đó khiến nhiều người phải nghiêng mình”. Tôi đã đọc đi đọc lại cuốn sổ tay. Một cuốn sổ tay có bố cục khá đặc biệt, với những quy định từ rất cụ thể liên quan đến giao tiếp, ứng xử cho đến các nguyên tắc hành động, trong đó khách hàng được xem là “máu”, là “trung tâm”. Tôi trân trọng tầm nhìn mà HueWACO đặt ra, đến năm 2020 trở thành công ty có hệ thống cấp nước đồng bộ, thông minh với trình độ quản lý tiên tiến và công nghệ hiện đại. Tôi cũng chia sẻ hoài bão của đơn vị mong ước trở thành công ty cấp nước có đẳng cấp khu vực và thế giới, nhất là cấp nước an toàn và ngon. Nó đặc biệt không thấy có ở các doanh nghiệp Thừa Thiên Huế.
Mới đây tham dự buổi gặp chuẩn bị cho dịp kỷ niệm 110 năm Nhà máy nước Vạn Niên, tôi được biết bản thiết kế về công trình cùng nhiều tài liệu có liên quan được tìm thấy tại một trung tâm lưu trữ ở Aix en Provence- Pháp và HueWACO đã quyết định bỏ ra khoảng 100 triệu đồng để sao chụp nhằm phục vụ cho việc trưng bày và hơn thế, vào mục đích phát triển và mở rộng dự án cấp thoát nước sau này. Hơn 100 năm đã trôi qua nhưng những bản thiết kế vẫn được giữ gìn cẩn thận một cách có văn hóa, với bút tích và những nét vẽ rõ ràng, đem tới cho người xem một cảm giác gần gũi và trân trọng. Trong Quyết định phê duyệt điều chỉnh chi tiết xây dựng Nhà máy nước Vạn Niên do nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cao ký năm 2017, người ta thấy xuất hiện ở đó khu bảo tồn, bảo tàng nước. Trong thực tế, nó cũng đã được xúc tiến hình thành và với Vạn Niên, Huế tự hào là nơi đầu tiên ở Việt Nam sở hữu một bảo tàng nước.
110 năm trước, từ bản thiết kế của KTS Bossard, Huế có nhà máy nước đầu tiên mang dáng vẻ một ngôi chùa, để lại ấn tượng đẹp trong tâm khảm bao người. Còn để gìn giữ và phát triển trong hơn một thế kỷ qua để có được một HueWACO bề thế, hiện đại như hôm nay mà vẫn bảo lưu được những giá trị truyền thống có được từ Vạn Niên xưa, người ta thấy bóng dáng của những con người lao động đầy nhiệt huyết, sáng tạo mà tiêu biểu là những vị đứng đầu đơn vị trong gần nửa thế kỷ qua, như ông Trương Công Liêm và Trương Công Nam. Tôi như hiểu hơn, giá trị văn hóa của HueWACO hôm nay bắt nguồn đầu tiên từ khát vọng, niềm tin, sự quyết đoán và khả năng sáng tạo của họ, cần được trân trọng và ghi công. /.  

 

 

Đan Duy
 In trang này]